yêu cà phê?

Nói người Việt yêu cà phê thì cũng trơn miệng và… thuyết phục như nói Mã Giám Sinh yêu Thúy Kiều. Khi những nhãn hiệu tiếng tăm (và có thực chất) như Illy, có tiếng tăm đôi chút (và ít thực chất) như Gloria Jean’s, NYDC biến mất không kèn trống tiễn đưa, ta có dịp nhìn lại xem về cơ bản, người Việt có yêu cà phê không.

Chúng ta không khó để nhận biết tình yêu chân thành đối với một người: đầy ngưỡng vọng, không thể thay thế. Vậy ta dùng phương pháp luận này để xem tình yêu đối với cà phê ra sao. Trong các tiệm sang hay ngoài quán cóc đầu phố, ta thấy mọi người đều gọi cà phê hoặc “thứ nước nâu nâu giông giống cà phê”, hoặc giả khi người phục vụ lại hỏi uống gì, mọi người đều thuận miệng nói “cho cà phê đi”. Cà phê là từ ngữ phổ thông đối với người Việt—dù không phải từ thuần Việt—với tần số xuất hiện ngang bằng với “kẹt xe”, “giời đất ơi”, “sến”, “đại gia”, “chân dài”. Thế nhưng thứ đồ uống mang tầm đại chúng lớn lao như vậy lại chưa từng được thưởng thức. Người ta chỉ thuận miệng gọi, thuận miệng nuốt vào, như một phản xạ vô ý thức. Ở nơi hợp mốt, thì cà phê là phương tiện thể hiện cách sống thời thượng; ở nơi bình dân thì dùng nó như phần bắt buộc của cái “gói dịch vụ” thuê ghế nhựa + ly cà phê + đĩa thuốc lá lẻ, gói “tất cả trong một” để tụ tập cùng nhau một chốc trước giờ vào sở, để nuốt trôi ổ bánh mì mua sẵn đem theo, để lướt web bằng wifi câu trộm và để nghe nhạc (tôi đã thấy có người bày cả loa bluetooth cạnh ly cà phê quán cóc mà oang oang bô lê rô). Ly cà phê tan đá, ly cà phê đắng, ly cà phê ngọt, ly cà phê thơm dịu hay ôi vị gỉ sắt, không thành vấn đề. Chả ai quan tâm đến nó.

Vậy mà nói là yêu?

Nguyễn Hưng Quốc từng đưa ra luận điểm gây sốc: người Việt không hề yêu thơ, ngược lại còn rẻ rúng thơ vì chỉ dùng thơ như phương tiện. Ta cũng có thể nói vậy về cà phê.