tình yêu hay sự chia lìa

Khi A và B hợp thành nhất thể không-A-không-B, hai danh tính tượng trưng ban đầu A, B mất ý nghĩa—hay nói cách khác, không tồn tại. Phải chăng ngay trong sự hợp nhất đã hàm nghĩa chia lìa?

Trước khi hai đối tượng A, B gặp nhau và yêu nhau, họ là hai kẻ lạ đối với nhau. Sau khi đã ở trong tình yêu, sự chia lìa vẫn diễn ra lúc mà một trong hai kẻ không còn yêu kẻ kia, hoặc một trong hai kẻ chẳng còn hiện hữu trên đời nữa. Dù người yêu vẫn còn, ta không thể đem theo người về cõi khác được—cũng như manh áo, túi tiền, danh vọng. Vậy thì trước và sau tình yêu đều là sự chia lìa, tình yêu bị bao vây bởi sự chia lìa.

Và chính nhờ cảm nhận về sự chia lìa, người ta mới tìm đến nhau, mong níu giữ nhau.

Trong kinh điển Vệ đà, người nam tượng trưng cho sự tỉnh giác; nữ tượng trưng tri thức. Sự kết hợp nam nữ đem lại thấu ngộ toàn vẹn, nhưng nội tại sự hợp nhất ấy vẫn chứa những mầm mống chia cách: rồi đây sự tỉnh giác sẽ “ăn thịt” tri thức, hoặc ngược lại. Chẳng bao giờ có tình trạng tương dung bất biến giữa tỉnh giác và tri kiến.

Trong đời thực, hay là xã hội suy vi hôm nay, cảm thức về sự chia lìa càng ngày càng trở nên mãnh liệt. Dù hiểu dù không, ai cũng có bản năng tìm đến một phao cứu sinh là tình yêu. Họ giữ rịt lấy tình yêu, tự đánh lừa mình là nó bền vững muôn vàn, cho đến khi những người tình bỏ đi. Từng người tình bỏ ta đi như những giòng sông nhỏ (Trịnh Công Sơn). Xuân Quỳnh viết, Chỉ còn anh và em Cùng tình yêu ở lại, nhưng những anh và những em, những tình yêu ấy chỉ là hình bóng vọng tưởng của một tâm thức chưa thoát khỏi phiền não.

Kết hợp là do duyên, chia lìa do duyên ấy đoạn. Duyên đoạn lại khởi duyên mới. Hay là tình yêu chính là nỗi chia lìa kết tụ.