tiên, những ngày cũ

Những ngày cũ của Thủy Tiên là những ngày tôi thấy cô lạ, không phải lạ lùng hay lạ xa mà là một tính cách lạ, không trùng với ai, không giẫm lên ai, không cần bắt chước ai; lạ hiểu theo nghĩa ngược lại với quen – Tiên từ năm 2007 đến giờ thì quá quen, chưa ho người ta đã đoán là sắp ho, chưa bước đi đã thừa biết là sẽ uyển chuyển lắc lư ra làm sao rồi.

Tiên ngày ấy lạ. Mùa xuân năm 2004.

Chúng tôi ngồi ở một tiệm cà phê vắng nơi con đường nhỏ ít người qua lại tại một thành phố biển. Thủy Tiên kể cho tôi nghe những câu chuyện ấu thơ đầy nước mắt và những người bạn cùng đi hôm đó buột miệng thốt lên, tội nghiệp con bé. Tiên mười chín tuổi và đã phải mang vác một quá khứ dày nặng, tội nghiệp con bé.

Tôi không thấy gì tội nghiệp. Một tuổi nhỏ biến động sẽ làm nên một tính cách mạnh; một sự khôn ngoan có khi lọc lõi để đối chọi với đời; một khả năng biến hóa, đeo mặt nạ, lột xác; một thế thủ rất cần có đối với những người làm văn nghệ xứ ta, vốn hăm bốn giờ bảy ngày bị những cặp mắt phóng viên nửa mùa báo mạng soi mói; một nhân cách kép ngoan hiền giả vờ. Có gì mà tội nghiệp, ừ thì Tiên có một tuổi thơ dữ dội, một niên thiếu truân chuyên, nhưng đâu phải chỉ có mình cô phải gánh chịu điều ấy, thế gian chán vạn người khổ ải, và Tiên khổ nhưng “not that much”, không khổ nhiều như câu chuyện bi thương đẫm lệ cô kể, thì càng tốt chứ sao.

Tốt cho việc xây dựng một hình tượng: tăm tối, tự kỷ, chứa bão lửa ở trong tim.

Đó là điều tôi làm được cho Tiên, thích hợp với tính cách không ổn định của cô, thích hợp với giọng hát cũng ít ổn định nốt, và còn điền được vào chỗ khuyết trên thị trường tuy bát nháo mà rất thiếu hụt: một rocker hát nhạc doom, thứ nhạc tối ám, điên mê, náo loạn, thứ nhạc của nội tâm bị giằng xé, của tâm hồn khuyết tật. Bấy giờ là mùa xuân 2004 và tôi khởi sự viết những bản rock đầu tiên cho Tiên, “Vắng”, “Điệu Ru Vực Sâu”, “Ngọt và Đắng”.

Ngược thời gian về trước một chút, tôi gặp Tiên lúc nào nhỉ? À, qua một người bạn chung: Phương, người làm tóc ở tiệm Thìn, cúi xuống thì thầm vào tai tôi vẻ bí mật, có một em gái rất xinh muốn làm ca sĩ, em gửi anh thử khả năng giùm em. Nghe câu được câu chăng, tôi cứ nghĩ Tiên là em gái, tức em ruột của Phương. Tôi bảo, ừ người trong nhà thì được. Phương chỉ tay về dãy ghế sau lưng tôi, nó đang ngồi kia, Tiên ơi đây là nhạc sĩ Quốc Bảo. Tôi ngoái lại và nhận được một nụ cười nhoẻn rồi tắt ngay, một cái gật đầu nhẹ, tất cả đều trong gương. Tôi cắt tóc xong ra cửa thì gặp Hà Kiều Anh, hai anh em ôm chầm lấy nhau hôn như thói quen tôi và những người bạn thân vẫn làm, về sau nghe Tiên bảo, em thấy cảnh đó em hết hồn, trời ơi ông này gặp ai cũng hôn.

Vài tuần sau, Thủy Tiên đến gặp tôi ở Yoko Cafe, tóc chải gel ướt rượt và cổ tay đeo hàng tá vòng bạc. Giọng nói còn thuần miền Tây, chưa sửa cho ra giọng lai Bắc như sau này. Tiên ngày ấy lạ, và tôi thấy cô đẹp.

 

***

Trích nhật ký:

“Tôi không gặp lại Tiên từ cuối năm 2006 đến giờ, năm năm rồi. Trong vòng ba năm (2004-06), Tiên đúng là muse (hình tượng cảm hứng) của tôi trong nhiếp ảnh. Đĩa thứ hai của Tiên mang chính tên cô, thuy-tien (2006), tôi tự mình chụp ảnh cho cô.

Tối ngày 31/12/2005, chỉ vài giờ nữa là sang năm mới, tôi đưa Tiên đến thăm Lê Thanh Hải, đưa ra các yêu cầu về ánh sáng, thiết bị, và mượn studio Hải để chụp. Tôi tìm tư liệu ảnh gothic, xem để nắm được tinh thần, không khí và cách hóa trang. Làm gothic ở Việt Nam rất khó, cái điên dại tăm tối Trung cổ mà tái hiện ở nước mình thì cần tiết giảm liều lượng để đừng gây sốc. Lẽ ra một bức ảnh sẽ có ngay chất gothic khi trong ảnh có quạ, có cú, có rừng cây trụi lá, có mảnh trăng treo xa xa, có thánh giá, có xích sắt, có trang điểm nhòe nhoẹt như thể vừa qua một trận khóc la lăn lộn, có áo đỏ rách rưới, có gai cào nến đốt, có lâu đài hoang, có sách viết tay trước khi nhân loại có máy in, vân vân. Nhưng tôi không tìm được các đạo cụ ấy ở Saigon, mà dù có cũng chẳng dám dùng. Vậy chỉ còn cách “thôi miên” người mẫu, làm sao cho Tiên nhập được hồn gothic, sắp một kiểu đặt sáng âm u, mở nhạc gothic tối tăm ám ảnh, rồi chụp.

Tiên nhập vai tuyệt vời.

Cô có cách tạo hình thờ ơ đặc biệt, rất hiếm gặp. Thờ ơ, thất thần, không, phải gọi là HƯ TÂM mới đúng. Có ở đó, mà lại lẩn khuất tận đâu. Đờ đẫn, mà vẫn tập trung. Thân thể, nét mặt, vẻ rũ rượi, mọi chi tiết đều biết nói, biết kể chuyện. Bấy giờ, tôi huy động các máy ảnh tốt nhất trong bộ sưu tập cá nhân để chụp cho Tiên: Hasselblad 500C/M, Contax AX, Pentax 645N. Chụp toàn phim dương bản.

Tôi đặt các tấm phim slides lên hộp rọi sáng, xem lại suốt buổi tối. Nhớ lại tất cả. Không phải nhớ những chuyện riêng tư giữa chúng tôi, mà riêng mảng ký ức về việc chụp ảnh Tiên được rọi sáng. Qua những tấm phim khổ lớn…”

***

Nhiều nhà báo hỏi tôi về Thủy Tiên của hôm nay, chưa bao giờ tôi trả lời. Tôi nói, tôi chỉ quen biết một người tên là Trần Thị Thủy Tiên từ năm 2004 đến cuối năm 2006, đánh dấu bằng cuộc họp báo giới thiệu đĩa thuy-tien. Tôi không biết gì hơn về cô Thủy-Tiên-ấy sau đó, và càng không quen biết một ca sĩ Thủy Tiên nào sau này. Với tôi, ba năm của Thủy Tiên từ mười chín tuổi đến tròn hăm mốt, là lúc tôi khám phá một Thủy Tiên lạ, một nhan sắc lạ, một cá tính lạ. Không làm đẹp lòng đám đông, nhưng độc đáo, đáng nhớ. Gây nên bi kịch nhưng dứt khoát không dựng hài kịch. Đầy nước mắt và những đêm thiếu ngủ nhưng không để ai coi thường mình. Hát một loại nhạc ít fans nhưng danh sách người ái mộ lại toàn tên tuổi: Tiffany Chung (nghệ sĩ thị giác đương đại), Mai Khôi (ca sĩ), Tùng Dương (ca sĩ), Laurent Jaccoux (chuyên viên âm thanh)…

Ở một trong những tình ca chân thành và buồn bã nhất của tôi, “Ta Đã Yêu Trong Mùa Gió”, tôi viết:

Chiều qua rất êm như môi em

Mây đã trôi xuôi và gió lên

Tay trong bàn tay tóc em như cỏ

Ba năm 2004-2006, trời Saigon rất nhiều gió và chiều nào cũng là chiều êm. Mùa gió không còn khi Thủy Tiên đã “lớn”?