thức

Ngay cả bào thai cũng đã mơ. Khi đó, ý thức vừa mới có mặt, những gì bào thai mơ thấy là từ sự di truyền vô thức tập thể, cộng với tác động môi trường (những âm thanh, chuyển động của bà mẹ), nhào nặn lại mà thành giấc mơ. Rồi người ta sẽ mơ cả cuộc đời. Lúc không ngủ, vẫn mơ: ý thức chỉ nhận dạng thực tại dựa trên kinh nghiệm, trên vốn hiểu biết hạn chế, ý thức đâu thể biết được đến Chân như, hỏi thế chẳng phải mộng sao?

Luận điểm trên là cơ sở đến với Duy thức luận (vijñānavādin), một trong hai trường phái quan trọng của Phật giáo Đại thừa.

Thức, chữ Hán nghĩa là biết, nhận biết. Thuật ngữ Phật học đồng nghĩa Thức với Tâm—tâm thức. Đó là tất cả những gì đem lại sự nhận biết, từ chỗ đơn giản nhất như biết đây là cái cây, kia là con mèo, cho đến cái biết cao vời (tư duy, tưởng tượng, lập luận, xúc cảm). Nhưng Thức có hình tướng ra sao, nằm ở chỗ nào trên thân thể? Trong đầu, trong tim, dưới bàn chân? Nói gọn lại, ai cũng hình dung được Thức, mà vẫn không chỉ thẳng Thức được. Duy thức học hay tâm lý học tầng sâu đều nỗ lực giải thích khái niệm Thức, song để mô tả thực tướng của Thức, biết được thực sự Thức là gì một cách thông tỏ, thì người cần suy nghiệm và trải nghiệm.

Thầy Tuệ Sỹ có một ví dụ về Thức: nhìn từng mẫu tự chạy ngang một khe hẹp sao cho chữ này trôi qua thì chữ kế mới hiện đến. Thức xuất hiện lần lượt ghi nhận từng mẫu tự, đó là Thức vô phân biệt. Lần hồi, những mẫu tự ấy mới được sắp xếp lại trong đầu người nhìn, biến thành một hay nhiều từ có nghĩa. Vậy thì Thức vô phân biệt phải có chỗ chứa, bộ nhớ tạm, để sau đó truy xuất trong quá trình tái cấu trúc. Hai người khác nhau, tùy căn cơ mà “thức” những ký tự theo cách của mình, người A thì ồ, đây là câu tiếng la tinh có nghĩa là bla bla, người  B ghép hoài vẫn thấy vô nghĩa. Trong khi đó, thực tướng (những chữ chạy) vẫn chỉ có một mà thôi.

Đọc được hay không được, thì thảy đều là hư vọng.

Những ký tự rời rạc trên, khi đã lưu lại trong kho chứa, sẽ có ngày hiện thành một cảnh tượng, một câu chuyện trong giấc mơ.

Vậy tại sao ta không mơ từ đầu, mơ ngay cả khi tỉnh giác? Nghĩa là nhận biết (Thức) những sắc tướng kia chỉ là sự ráp nối ngẫu nhiên do duyên mà thành?

Duyên đoạn, sự biết cũng sẽ mất.

Thức khởi lên mỗi khi hiện tượng (do duyên kết thành) xảy đến. Nó tụ thành ngay vào giây phút duyên khởi, chứ nó không thường hằng và nhất là, vô hình tướng, không nằm ở đâu cả, trong thân cũng như ngoại thân.

Nhận thức trực tiếp, chưa phân biệt, chưa có sự can thiệp của việc tái cấu trúc sự biết, như trong ví dụ của thầy Tuệ Sỹ, từng con chữ lướt qua và được nhận biết ngay khoảnh khắc ấy. Trực nghiệm và trực thức bao giờ cũng thanh tịnh (hơn), nên tiếng nói trực cảm hay được cổ súy và tin theo. Tuy nhiên, dù không có sự can thiệp của cái Tôi, dù thanh tịnh và chân thật, khả năng phạm sai lầm (biết nhưng biết sai) vẫn xảy ra rất nhiều, nói nôm na là trông gà hóa cuốc. Vậy thì, để trực cảm đạt độ tin cậy cao thì cần mài giũa nó. Giống như thay một ống kính đã xước mốc bằng ống kính tốt hơn. Giống như lau tấm gương cho đến khi nó sạch bụi. Quá trình lau dọn, làm sạch, tẩy trong để cái biết (vô ngã và không phân biệt) đáng tin cậy hơn, tức là phát triển trực cảm phàm phu thành một thứ linh giác của bậc thánh trí, quá trình đó là tu tập vậy.

Tôi sẽ nói về ba thức sau cùng trong tám thức: ý, mạt-na và a-lại-da. Sở dĩ cần nói đến là vì chúng có quan hệ hỗ tương, nhân quả. Trong đời sống hàng ngày, nếu biết nguyên lý vận hành của các Thức vi tế đó, có thể phát triển nhận thức và linh giác một cách nhanh chóng, hiệu quả.

* A-lại-da, thức thứ tám, thức tầng đáy của ý thức. Có thể ví a-lại-da như kho chứa tất cả các kinh nghiệm mà cá nhân tích tụ qua quá trình sống, học tập, được cô lại dưới dạng viên, hay hạt mầm (chủng tử) và chứa những năng lượng tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào nghiệp quá khứ. A-lại-da có đầu vào là sự cảm thọ từ năm giác quan, tức năm thức đầu tiên (nhãn nhĩ tỷ thiệt thân), và vì năm giác quan này chỉ nắm bắt sự việc một cách trực tiếp và mông muội, bản thân kinh nghiệm không hàm chứa bất kỳ cảm xúc nào, và cũng không thể diễn giải được. Mắt thấy chiếc lá xanh, dữ liệu lập tức tàng trữ vào a-lại-da; tai nghe thấy tiếng, dữ liệu cũng đưa xuống a-lại-da cất giữ. Nếu mắt, tai chỉ có mối liên thông với a-lại-da mà không có sự tham dự của thức thứ sáu và thứ bảy, ta không thể nói được ấy là chiếc lá xanh, ấy là tiếng động gì. Để diễn đạt, mô tả, cần có thức thứ sáu, mạt-na.

* Mạt-na là thức phân biệt, biện biệt, mô tả, cân nhắc, tái cấu trúc. Mạt-na nấu chín các chủng tử đã nằm trong a-lại-da thành một thứ hiện tượng chủ quan, để có thể nói về sự vật theo cách mà cá nhân hiểu. Mạt-na là điển hình của cái tôi chủ quan, cái tự ngã phân biệt đối nghịch ta – thế giới, ta – khác ta, và vì thế, khiến cho các chủng tử nảy mầm ào ạt, cả thiện lẫn ác.

* Dưới sự chỉ đạo của mạt-na, thức thứ sáu hoạt động. Đó là ý thức, là tư duy và nhận thức, là bộ phận điều khiển trực tiếp việc hành xử, ứng đối, thuyết ngôn; là nơi tỏ lộ cảm xúc vui buồn giận ghét. Nhưng ý thức tự nó lại phụ thuộc quá nhiều vào mạt-na, chịu sự điều khiển, sự “quảng cáo” của mạt-na, nên chúng ta thường hành xử không đúng mực, cảm xúc cũng ảo, không còn thấy được đúng bản chất hiện tượng.

Vậy, làm thế nào để cân bằng ý thức, phát triển nó theo con đường thanh tịnh?

Bằng tư duy không phân biệt, cảm thọ trực tiếp sự việc, dần dà chúng ta làm mờ đi tự ngã, bớt bám chấp vào cái tôi. Lại trở về vấn đề trên kia tôi đã đề cập: phát triển trực cảm thành linh giác bén nhạy, trong sáng. Khi tư duy không phụ thuộc quá mức vào biện biệt và cái tôi ích kỷ, ta xé toang bức màn vô minh sai lạc mà mạt-na che chắn bấy lâu, đồng thời tác động vào các chủng tử thiện ở a-lại-da, lợi mình ích người. Một công đôi việc: vừa phát triển tư duy cá nhân đến mức độ cao, vừa hành được điều thiện.