thời khốn khó

“Trong bài viết tôi đọc được, B. nhắc lại hồi ở nhà in, hồi đó vui và bạn bè chưa tan tác như bây giờ. B. nhớ không, tập thơ đầu tay của tôi “Dẫu Ngày Xưa, Rất Xưa”, những bản nhạc phổ thơ, B. đã kẻ từng dòng nhạc cho tôi đó. Hồi đó B. đi xe Kawasaki đen và hình như hút Lucky. Cuộc đời như những dòng sông chia nhánh…”

(email Huỳnh Văn Dung)

Định ngủ một chút sau những biến động làm mệt lử, thì tôi thấy email anh Huỳnh Văn Dung, xưa chủ nhà in báo Văn Nghệ Thành phố, người tôi đã nhắc đến trong một tạp bút về những ngày đầu gian khó của tôi trong sự nghiệp. Đó là quãng 91-94, cơm không đủ no và không đủ tiền để thay bóng đèn trên căn gác nhỏ, Vũ Ngọc Giao từng đến và thấy tôi đang dạy kèm hai cháu bé môn Toán-Lý lớp Tám và lớp Sáu trong ánh sáng lờ mờ điện áp sụt. Đó là quãng thời gian tôi làm bao nhiêu việc cũng không đủ sống, chỉ đủ mua sách nhạc và dây đàn (viết thư gửi bưu điện, xin người thân mua), làm bao nhiêu việc miệt mài đến độ đau dây thần kinh đốt sống cổ, di chứng đến tận giờ còn đau.

Thời khốn khó ấy, tôi chạy như con thoi bốn nơi: trường Cao Đẳng Sư Phạm (tôi dạy guitar cho khoa Nhạc) – Hội Nhà văn (tôi trình bày bìa sách cho chị Ý Nhi) – Hội Âm nhạc (làm phòng thu với anh Phạm Trọng Cầu) – trụ sở báo Văn Nghệ Thành phố (đưa hàng đi in, gửi bài cho báo, ngồi đồng uống cà phê với anh em). Thời ấy, báo Văn Nghệ có quán cà phê rất tươm tất, phòng montage ở trên gác, họa sĩ Đỗ Hoàng Tường làm ở đó, chuyên mis en page và vẽ minh họa. Thời đó, sáng nào cũng thấy Phạm Thiên Thư, Nguyễn Lương Vỵ, Chóe (bố của nhiếp ảnh gia Hải Đông), Vũ Ngọc Giao, Châu Đăng Khoa, Bùi Chí Vinh, nhiều người nữa, ngồi ngất ngưởng trước khi sang 81 Trần Quốc Thảo nhậu. Tôi mải miết ở nhà in phía sau, chỉ thỉnh thoảng mới ngồi lại với bạn bè được. Tập nhạc đầu tay của tôi được xuất bản, in ở đó và tôi nhớ đã chạy chiếc Yamaha cũ rích của mình đến nhà Tường ở Trần Đình Xu nhờ anh vẽ minh họa bìa. Bìa “Cõi Hồng – mười chín tình khúc Quốc Bảo, Hội Âm nhạc TP. HCM ấn hành”.

Ừ tôi nhớ thời ấy lắm. Nhớ từng chi tiết nhỏ. Thời khốn khó không quên được. Nhớ những lần chở Vũ Ngọc Giao đến Joseph Huỳnh Văn nhậu thịt chó giữa cơn hồng thủy Saigon, nhớ những buổi chiều đưa Loan đến chơi nhà Phạm Thiên Thư ở cư xá Bắc Hải, nhớ những lúc hỏng xe phải mượn xe đạp của người cậu ruột để đi dạy kèm, lên nhà xuất bản, đi đó đây giao dịch công việc. Nhớ những chiều không mưa mà đường vẫn ngập (khu Quận 11 vốn thấp), dắt xe máy ra chỗ nào khô mới nổ máy. Nhớ những buổi tối tạt vào cà phê Huy Tưởng đường Bà Lê Chân Tân Định, nghe đọc vài câu thơ mà cồn cào cả đêm, những ngày tập nhạc cho các em Dây Leo Xanh (Đạt Thịnh, Kim Yến, Kim Ngọc), nhớ những buổi chầu chực ở phòng thu anh Cầu đợi đến lúc khách hàng vãn, để thu một bài guitar. Và nhớ vô cùng hương vị khói thuốc Mai, Đà Lạt, Du Lịch—những thứ khói cay nồng, đậm đặc như mùi bùn non, rít đầy phổi để mà ho (Paul Auster, trong Nhật Ký Mùa Đông, có viết “Tại sao tôi hút? Vì tôi muốn ho.”). Nhớ những chầu nhậu ngả nghiêng ở nhà Ngô Nguyên Nghiễm, những đêm tình ca ở khoa Nhạc trường Cao đẳng Sư phạm và Nhà văn hóa Thanh niên. Nhớ lắm.

Nhớ cả Phạm Mạnh Hiên, người chủ trương tập san Mỹ Thuật Thời Nay đã mời tôi cộng tác cả năm ròng trước khi tôi về viết cho Tuổi Trẻ.

Nhớ những người đã cùng sống với tôi, chia sẻ với tôi thời khốn khó ấy. Họ tản mác, nhưng họ luôn tụ về trong lòng tôi.

Ngay cả kiếp sau.

23/3/2013