thiền sinh nghệ sĩ

Những năm tuổi trẻ nông nổi, sau khi miệt mài với bộ ba cuốn Thiền Luận thì tôi phân vân giữa hai lựa chọn: học Thiền hay không. Tại sao muốn học? Vì sức hấp dẫn của những công án Thiền chăng? Không đâu. Tôi thấy chúng chẳng có gì hấp dẫn hết. Vì những bài tập đàn khô như ngói của Alice Artzt chăng? Càng không, Carcassi và Sor chưa đủ chán hay sao? Mà vì nỗi thèm khát ao ước như nhiều nghệ sĩ Tây phương đã từng nung nấu: Leonard Cohen, Yoko Ono, David Lynch, Herbie Hancock, Jack Kerouac. Bấy giờ tôi chỉ biết bấy nhiêu cái tên, nhưng bấy nhiêu cũng đủ nao nức. Còn vì sao định không? Vì những tấm gương Việt Nam làm tôi lo sợ, ông ấy chàng nọ thiền đấy, xong tẩu hỏa nhập ma, dở dở ương ương trí não có vấn đề. Sau những phân vân (cũng may, hồi tuổi trẻ sự phân vân không hành hạ ta, không phải nan đề để nhũn não giải đáp) tôi quyết định thôi quên đi, thiền thiếc gì. Ừ thì thôi.

Vài bài hát của tôi được cho là có phong vị Thiền, như “Bình Yên”, chỉ là một cách nhìn đời sống như tôi cảm thấy, chúng hoàn toàn chẳng hề dính dáng gì đến Thiền hay Phật đạo. Thậm chí tôi còn từ chối nhiều dự án phổ nhạc kinh sách vì không thấy nghĩa lý gì trong việc làm đó. Tôi có những cơ duyên tiến lại cửa Thiền nhưng đều ở dạng cưỡi ngựa xem hoa, ít chuyên chú và không định dành thì giờ chuyên chú. Lối sống Thiền thi vị, song sự thi vị chỉ cuốn hút khi người ta trẻ, rất trẻ. Những vấp váp trong đời sống gia đình và công việc lôi tôi về phía những quan tâm khác, hoàn toàn xa rời Thiền.

Mãi sau này (tôi không nhớ rõ mốc thời gian) tôi mới phát nguyện cư sĩ và hành trì, thiền định, nghiên cứu Thiền một cách nghiêm túc. Không vì sức mê hoặc bề ngoài nữa (đã quá tuổi để bị mê hoặc), cũng không vì lý do sức khỏe hay biến cố (để chữa lành thân thể và tâm trí, tôi đã có thuốc, có bác sĩ và yoga). Tôi vào Thiền vì những thôi thúc tự nhiên, chẳng nhớ mình bị thôi thúc vào lúc nào, và vì sao một sáng thức giấc lại quyết định dấn thân. Dẫu sao thì sự đã định, đã xảy ra rồi.

Vậy đó, tôi thành một thiền sinh. Có lẽ động cơ mạnh nhất thúc đẩy tôi là niềm khao khát giải đáp được ý nghĩa đời sống: ta sống để làm gì? đời sống xung quanh tác động đến ta như thế nào? gây cho ta những bất lợi và những niềm vui nào? làm sao để khoáng trương niềm vui và giảm thiểu bất hạnh? Đại loại là những câu hỏi như thế.

OK, đó là việc riêng của tôi, nan đề của tôi, và kể dông kể dài những lý do dù đáng nghe đến mấy cũng chỉ là chuyện nghe rồi bỏ đó. Bây giờ tôi nói về sự “chung sống” giữa thái độ Thiền và đời sống nghệ sĩ. Liệu giữ giới hạnh, tu tập, nghiên cứu, thiền định, cải sửa tư tưởng, quét dọn lầm chấp có hạn chế đời sống thế tục hoặc tệ hơn—khiến ta chán ghét đời thế tục đến mức không còn muốn viết nhạc, làm thơ, kiếm tiền mà chỉ chăm chăm chờ ngày rũ áo vào núi ẩn cư? Làm thế nào để Phật học và Thiền không những gây phấn khích và cảm giác lâng lâng sảng khoái (điều mà các thiền sinh Tây phương mong chờ) mà còn rọi cho những tác phẩm ta đang và sẽ soạn một thứ ánh sáng hoàn toàn mới?

***

Ta hạn chế dông dài, hãy nói riêng về âm nhạc, nghề chính của tôi, nghề kiếm sống và cũng là công việc tôi làm ở tư cách chuyên nghiệp nhất. OK, vậy tôi viết nhạc vì điều gì?

“Nghề kiếm sống” đã là câu trả lời. Tôi viết nhạc để bán. Bằng đồng tiền kiếm được, tôi mua gạo mua áo cho mình, tôi mua nhu yếu phẩm cho gia đình, tôi đóng học phí cho con, tôi bảo đảm đời sống dễ chịu cho bản thân và người thân. Nhạc khi ấy là một thương phẩm, phải bán-được. Có tu học, có hành trì các giới luật Phật giáo, thì ngoài sự thuận mua vừa bán tôi quan tâm đến phẩm chất của món hàng: mình đã làm tốt chưa, thứ mình làm ra có đạt được sự đẹp đẽ tốt lành chưa, có đem lại niềm vui và một ý nghĩa tích cực nào cho người tiếp nhận chưa. Vâng, thì tôi đã và luôn làm như thế, xuất phát từ thái độ của một người tu học.

Nhưng nếu chỉ viết nhạc để bán, hẳn là tôi đã làm xong việc từ lâu. Hơn một nghìn bài hát, cắt bỏ đi còn bảy trăm, “của để dành” bán đến chết cũng dư. Nếu chỉ dừng lại ở những thương phẩm, tôi đã ngừng viết nhạc. Thế tại sao tôi tiếp tục viết?

Bởi vì quá trình quán sát nội tâm cho tôi những trải nghiệm mới mà tôi có thấy dứt khoát phải ghi nhận lại bằng ngôn ngữ âm nhạc. Đến đây thì không còn phải trả lời cho câu hỏi phổ thông muôn thuở “để làm gì” nữa, những để-làm-gì đã giải quyết xong. Bây giờ việc viết nhạc không còn mang tính mục đích. Vâng, chẳng để làm gì.

Tôi mê âm thanh chăng? Tôi mê sự réo rắt khoan nhặt của âm nhạc chăng? À hồi trẻ cũng có mê, giờ đỡ nhiều rồi.

Tôi đã nói, chẳng vì gì, chẳng để làm gì. Nguồn cơn và mục đích nay nhập thành một: sự trống không. Chính sự bặt lặng, trong suốt là nguồn cảm hứng mới, nguồn năng lượng mới. Tôi đã trút ra quá nhiều năng lượng để tồn tại và phục vụ, thì việc tôi nạp lại, sạc pin cho tâm trí mình đâu ai cấm đoán. Và chọn lựa nguồn pin nào để sạc, là quyền của tôi. Tôi chọn thứ năng lượng trong suốt, tĩnh lặng. Những gì tôi viết ra cũng sẽ như thế, tĩnh và trong. Không dành cho ai cả, cũng không bán, nhưng lại có thể dành cho mọi người. Dành cho những ai có nhu cầu trau giồi phẩm hạnh và mài sắc tâm thức như tôi.

(trích Hồi Ký Không Xuất Bản)