sự kỳ diệu của phim

Có thể những điều tôi viết không gây được sự chú ý nào từ các bạn, vì các bạn đã biết cả rồi. Cũng có thể các bạn chưa biết nhưng vẫn không thích, không quan tâm. Không sao cả, bởi vì tôi không định rủ các bạn làm một cuộc “về nguồn” gian khó và lam lũ, các bạn vẫn cứ thoải mái chụp ảnh số (tôi cũng vậy); tôi chỉ ghi lại đây vài điều tự tôi cho là thú vị, thậm chí mới mẻ, mà sau hai mươi năm chụp phim tôi mới có dịp ngẫm nghĩ chín chắn.

(Cần nhắc lại một lần nữa: tôi vẫn chụp song song cả số lẫn phim.)

Mặt phim được tráng từ một đến hai lớp tinh thể bạc phết thành dạng nhũ tương (phim Kodak TMax có hai lớp—lớp dưới gần đế phim là hạt tròn, trên đó còn một lớp nữa gọi là “tinh thể T” dạng phẳng dài) được sắp xếp hỗn độn ngẫu nhiên, bởi thế tùy nguồn sáng, cách chụp, cách tráng phim (hóa chất, nhiệt độ, sự dao động lúc tráng) mà các hạt nổi lên theo các cách khác nhau. Sự hỗn độn là bản chất của cái chúng ta ưa gọi là “nổi hạt”, thứ kết quả ngẫu nhiên vô tình của hóa học này phải tốn rất nhiều công thì Photoshop mới giả lập được ở chừng mực tương đối. Cơ chế hoạt động của máy ảnh phim cho phép nguồn sáng xuyên qua ống kính đập vào mặt phim ở mọi góc độ, tỏa hết mặt phim; trong khi đó chỉ một phần cảm biến máy ảnh số tiếp thu được ánh sáng (phần còn lại của sensor đảm trách các tác vụ khác như dẫn truyền tín hiệu quang học vào các pixels, rọi sáng giả lập ở vùng viền ảnh) nên cho dù một máy full-frame đi nữa, về lý thuyết diện tích tiếp nhận nguồn sáng chỉ bằng (giỏi lắm là) 40% diện tích miếng phim 35mm. Hai hãng đầu ngành Hasselblad và Leica tốn công sức không chỉ để nhồi thêm pixels vào mặt cảm biến mà chủ yếu là lập trình các tình huống ống kính, các bộ xử lý giả lập để gia tăng độ sáng/độ tương phản. Và việc sắp xếp pixels theo một trật tự đều tăm tắp đã khiến cảm biến yếu hẳn so với sự hỗn độn (nói trên) của phim, bởi phải hỗn độn thì mới gây nên hiệu ứng ba chiều và các chuyển sắc độ thang xám tinh tế được. Vì vậy không khó hiểu khi ta ngắm một bức ảnh số: nó không thể sắc nét (do đã bị che một lớp anti-alias filter để bào cho mượt các cạnh gãy của pixels) và khô lạnh (vì tín hiệu ghi nhận chỉ là hệ đếm cơ số 2)—trong khi ảnh phim tương phản tốt, vùng tối hoàn hảo giàu chi tiết, vùng sáng không cháy, và cực kỳ sắc nét cũng như cực kỳ tình cảm.

Điều làm nên “tình cảm” hẳn một phần do cách chụp. Ở nhiếp ảnh phim, bao giờ ta cũng suy nghĩ kỹ, chụp cẩn thận. Ta không thể giơ máy lên bấm đại rồi mở xem lại để xóa. Khi có ít lựa chọn (ví dụ cuốn phim nhỏ chỉ có 36 tấm), mỗi cú máy là một trạng huống cảm xúc và tư duy. Khi có quá nhiều lựa chọn (gắn một thẻ nhớ dung lượng cao rồi cứ miệt mài bấm, rồi miệt mài xóa), ta đâu cần nghĩ. Ảnh số khô khan máy móc cũng phần vì vậy.

Phim chụp xong, tráng cẩn thận và bảo quản tốt, nó là của bạn suốt đời bạn, thậm chí đến đời con cháu bạn. Files số dễ dàng bị xóa, bị hư hỏng khi ổ cứng gặp vấn đề, và bạn ít khi nào nhớ nổi mình đã chụp sự kiện này kia bằng máy nào, lưu ở đâu. Ảnh số thỏa mãn nhu cầu dịch vụ, báo chí, mạng xã hội; nhưng ảnh số họa hoằn lắm mới đem lại tác phẩm.

Phim kỳ diệu lắm. Đây là tôi chưa nói đến sự khác biệt giữa phim 35mm với phim 120 và phim tấm. Chỉ cần bạn chuyên chú vượt qua mốc trở ngại đầu tiên về việc hoàn thiện kỹ thuật, kiến thức, thì cả một con đường dài đầy hoa trái chờ đợi bước chân bạn đó.