saigon (4)

Vì quá mê thích những bức ảnh Saigon đầu thập kỷ sáu mươi của thế kỷ trước, tôi tìm đi lại những con đường mà tôi hy vọng còn giữ được ít nhiều màu sắc, ánh sáng, cảnh vật của một Saigon quá vãng. Hai con đường nhỏ song song nhau trổ từ Trần Hưng Đạo vào, là Hồ Hảo Hớn (Huỳnh Quang Tiên cũ) và Trần Đình Xu (Phát Diệm cũ). Một trong hai đường này có thời đã là nơi tôi lui tới nhiều lần, khi họa sĩ Đỗ Hoàng Tường đặt phòng vẽ ở đó và tôi, một kẻ viết báo lang thang cơ nhỡ muốn in tập ca khúc đầu tay (Cõi Hồng, 1992) đã ghé Tường nhờ vẽ hộ cái bìa. Năm 2013 tôi cũng có dịp vào con đường này khi đến diễn thuyết về Saigon trong một hội thảo bỏ túi của các sinh viên khoa tâm lý, mùa hè, chủ nhật, ngày mà tôi hay tin anh Lâm Quốc Trung mất.

Lâm Quốc Trung cũng là người yêu Saigon sâu đậm, thiết tha. Đưa tôi vào nghề báo, anh cho biết chủ trương ngay từ lần đầu gặp mặt, ở căn phố lầu đường Lê Hồng Phong mà tầng trệt vợ anh mở tiệm sách và văn phòng phẩm, rằng anh làm báo “kiểu xưa”, viết đề tài nào cũng phải khai thác có ngọn có nguồn, như một đề mục trong bách khoa toàn thư chứ đừng viết “ngang xương” như ngầm coi độc giả đã hiểu biết trước. Cuộc nói chuyện của chúng tôi (lần đầu ấy) xoay quanh các ngôn từ vốn phổ thông nay không còn dùng, mà anh Trung nửa muốn truyền giảng cho tôi nửa muốn giữ lại để nhờ các nhà báo lão thành như Lê Phương Chi viết. Chẳng hạn từ cao bồi (cowboy), từ du kề (jockey) du nhập vào Saigon không còn nguyên nghĩa gốc. Mãi khi tìm hiểu (thật ra không khó tìm tư liệu, chỉ cần hỏi các cụ như Vương Hồng Sển là xong hết) tôi mới nhớ à ngày bé mình cũng đã từng hát nhảm, nhại bài “Học Sinh Hành Khúc” của Lê Thương:

Học sinh cao bồi mặc áo sơ mi ca rô

Học sinh là người hủ tiếu ăn hai ba tô

Cao bồi ở Saigon gắn liền với du đãng—cao bồi du đãng, du kề đi với du côn—du côn du kề. Muốn biết rõ về giới thanh thiếu niên phản kháng đó, phải đọc Duyên Anh. Hay là câu hát nhại ngày xưa mỗi lần tôi hát ê a cùng với lũ em con ông chú, nhà nội tôi ngay chân dốc Cầu Bông, là bị người lớn nạt:

Ai đang đi trên Cầu Bông

Rớt xuống sông ướt cái quần ni lông

Dzô đây em

Chờ quần khô anh sẽ đưa em dzìa

(Nhại bài “Trăng Rụng Xuống Cầu” của Hoàng Thi Thơ)

Những năm trung học, tôi vẫn mặc quần tây sửa từ quần khaki của bố tôi, vải khaki Mỹ tốt lắm (à từ khaki lại có gốc… Ấn, nhưng ta sẽ nói chuyện này vào lúc khác), để từ năm 1968 đến 1981 mà không hề rã mục. Hồi đó tôi đi học ăn mặc tức cười, áo sơ mi trắng cotton nội hóa, quần khaki Mỹ, dép râu bộ đội, mũ bóng chày. Rất… cao bồi. Tôi tập hút thuốc chẳng phải vì nghe chuyện bố tôi hút thuốc hay cậu tôi luôn có điếu thuốc trên môi, mà cũng vì Duyên Anh. Trong một truyện nào đó không còn nhớ, nhân vật Hoài xuống Mỹ Tho ở trọ nơi nhà một thiếu phụ lãng mạn, chính bà ta đã khuyến khích Hoài hút thuốc, mua cho anh gói Capstan mà bảo rằng cậu hãy hút để đưa mình đi xa hơn với ý nghĩ của mình. Thuở mười sáu, tôi nào có hiểu thế nào là “xa hơn với ý nghĩ” nhưng thấy hình ảnh hút thuốc đẹp, vả lại muốn chứng tỏ mình người lớn, thế là đâm nghiện. Lại gặp thời thuốc lá sang nhiều, dễ mua, đâm ra không bỏ được (chuyện này ta cũng sẽ nói vào lúc khác).

Tôi đi vào hai con đường Hồ Hảo Hớn, Trần Đình Xu, thuận đường rẽ lên Ký Con tìm căn nhà Mai Thảo đã ở, số 133B. Nơi này giờ khác lắm, tôi không nhìn ra hình bóng nào của quá khứ. Cũng như ngôi nhà 142 Tự Do của Nhã Ca, chẳng còn dấu vết. Nhưng tôi bỗng nhớ đến đoạn văn Mai Thảo viết sáu mươi năm trước, thế này, về Saigon:

“Giữa thành phố hôm nay, hội vui đã mở sẽ không bao giờ hết. Hội mở trong vô hạn, về vô cùng. Vậy mà hiện tượng rực rỡ này mới chỉ là một hiện tượng khởi đầu. Saigon với những hàng cây, những bóng mát, những tảng nắng, những phiến trời xanh đang nói lên với dân tộc và thế giới hôm nay, qua trùng dương, qua biên thùy, những sắc thái mới của mình.”

Nhớ lại đoạn văn ấy, tự dưng thấy lòng nhẹ nhàng hơn. Trước một mất mát không thể vãn hồi, người ta chỉ còn cách chờ đợi những bù đắp mới.