saigon (3)

Năm 1970 Mai Thảo viết về gia đình ông, một gia đình Bắc di cư: “Gia đình tôi, như hàng nghìn gia đình miền Bắc khác tản cư vào Nam, thấm thoát đến cái Tết Canh Tuất này, từ 54 đến 70, đã mười sáu năm định cư trên đất mới. Như những gia đình khác tới đây, tập họp lại sau đổi rời, lịch sử của nó cũng là cái lịch sử lần giở từng tờ của một hòa nhập tuần tự. Tôi đã nói, ở đâu đó, về một cảnh tượng hạ trại. Về một hiện tượng ghép cành.” Ông cũng nói về một sự “truyền tiếp” (chuyển giao thế hệ) liên tục và lạc quan viết “khiến cho đời sống cuối cùng vẫn được xem như một khởi đầu, một mùa xuân vĩnh viễn”. Tôi cũng vừa viết vào bản thảo cuốn sách sắp in, 50, rằng tôi sống tiếp đời sống của cha tôi, mà vì vận nước đã cắt ngang giữa dòng năm ba mươi tuổi, sống tiếp không có nghĩa là bắt chước hay hoài cổ, mà sống cái đời sống này bằng năng lượng của đời sống người cha. Tương tự thế, con trai tôi rồi cũng sống một phần bằng dòng năng lượng do tôi truyền sang, bất kể cháu sẽ làm nghề gì, cư trú ở đâu. Nếu cần phân tích rạch ròi hơn nữa, thì năng lượng hiện giờ tôi có kế thừa từ Bắc di cư + văn hóa Pháp + không khí bản địa Saigon. Một chút Bắc mang theo, thế mà cũng đủ gây thành những hương vị riêng biệt. Văn hóa Pháp thì tôi tập nhiễm từ những bài học vỡ lòng, không khí Saigon tôi được hít thở năm mươi năm, chỉ chút Bắc kia là phần năng lượng vô hình mà bố mẹ tôi ban truyền.

Mai Thảo có thể không ngần ngại viết những buổi chiều miền Nam vạm vỡ bởi ông đã có nhiều buổi chiều miền Bắc để so sánh. Tôi không có buổi chiều nào khác ngoài miền Nam và đâu đó, vùng châu thổ Cửu Long phía Campuchia, có thấy vạm vỡ cũng còn e ngại vạm vỡ không đủ. Tôi chỉ dám nói mình đã nhớ đến thắt lòng khi rời xa Saigon, những buổi chiều Huế, chiều đất Bắc dù êm ả hay bão tố, vẫn là những chiều xa quê, những chiều xô giạt, ngổn ngang, thiếu hụt. Tôi hỏi con trai tôi cháu đi chơi có vui không, phố xá có vui không, cháu nói rằng chỉ đến nhà bạn hoặc đi xem phim, chẳng bao giờ dạo phố. Cái tập quán bát phố của người Saigon thuở nào hẳn đã mai một mà tôi không để ý. Cũng như tôi không để ý mình đã già.

Tôi không cần có cố gắng nào để “hòa nhập tuần tự” trên “đất mới”, vì tôi sinh ra ở đây. Vậy nhưng có một hòa nhập ẩn bên dưới câu chuyện đời tôi, ấy là hòa nhập với “thời mới”, với “người mới”, với cảnh thổ biến dịch từng ngày và nói gì thì nói, mỗi ngày một xấu đi, nhuôm nhoam chệch choạc. Thứ năng lượng đã nuôi tôi thời niên thiếu đã dành hết để hòa nhập, nay tôi chẳng còn bao nhiêu năng lượng dự trữ cho công cuộc ấy nữa. Tôi cũng không quan tâm lắm đến thế sự, chẳng phải bưng mắt bịt tai, mà vì tôi còn có mối quan tâm khác. Là làm sao phục dựng bằng ký ức và những tham khảo nghiên cứu của mình, một Saigon đúng như-chính-nó.