saigon (1)

Cuối cùng rồi tôi cũng làm cho vòng bụng giảm đi bốn phân bằng ăn kiêng, chạy bộ và gập bụng. Buổi trưa nắng chói lòa khắp vạn vật, cây hoa giấy bà cụ tôi trồng trổ một đợt hoa đỏ thắm sau những ngày trơ trụi cành. Tôi ghé chỗ anh thợ sửa giày ngoài cửa hiệu ảnh Saigon Lab cắt sợi dây lưng đi bốn phân. Saigon. Nắng. Thiếu cây. Ngất ngưởng nhà cao tầng xấu xí, xô giạt. Những vỉa hè lát gạch vô hồn.

Tôi vẫn viết Saigon thay vì Sài Gòn, Sàigòn, từ lâu lắm đã vậy, đó là tôi quen cách viết Pháp, lẽ ra phải có hai dấu chấm trên chữ i (Saïgon) để đọc là [sai] nhưng tôi lược bớt, đằng nào thì trên những ô đánh URL dân Pháp đã phải bỏ hết ô, ë, œ, è, ê, é kia mà. Saigon, trong năm mươi năm sống, tôi chỉ có tám năm ở chế độ cũ còn gấp năm lần thời gian ấy dưới một chế độ khác; vậy mà tám năm đã kịp hình thành những thói quen, những sở thích, những cái nhìn không dời đổi mà cả một đoạn dài sau đó không bị tập nhiễm thêm “đổi đời”, tôi tự hỏi phải chăng ở tôi có sẵn một kháng thể gây dị ứng với những yếu tố sau tám tuổi?

Cũng chẳng hiểu vì đâu—điều này ắt có nhiều cách giải thích—tôi tạo được một nếp sống khá Bắc kỳ dù không sinh ra ở đó. Mai Thảo khác, ông đã hăm bảy tuổi khi di cư; bố mẹ tôi khác, họ mười lăm tuổi lúc vào Nam, ký ức niên thiếu đã ăn sâu vào đầu óc, trở nên khó “hội nhập”. Như Mai Thảo viết (kỷ niệm 15 năm di cư): “Nhưng từ liễu Hồ Gươm đã mang theo làm bóng mát tâm hồn, tôi nhận bóng dừa Lái Thiêu làm bóng mát mới, hòa nhập ấy thật tình không ngon, không dễ. Những ngày tôi mới tới, cái bề ngoài ra chiều thuận hợp, nhưng cái bên trong, thực ra thuận hợp vẫn chưa là.” Thử lý giải điều này. Nguyên do thứ nhất, là gia đình tôi thuộc loại bảo thủ, gần như chống lại hội nhập với không khí, cách thể hiện tình cảm, phong tục lối sống miền Nam. Thứ hai, tôi sống những năm ấu thơ ở khu người Bắc xóm đạo, là một xã hội thu nhỏ hiện thân của sự dung hợp văn hóa Tây và văn hóa Bắc hà. Thứ ba, tuổi niên thiếu tôi đọc văn chương tiền chiến và văn thơ 1954 – 1975 (hai mươi năm văn chương miền Nam) toàn những nhà văn gốc Bắc (Thạch Lam, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, Tạ Tỵ, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn…), nghe nhạc thì Đoàn Chuẩn, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, lại Bắc hà. Nhưng cái lối Bắc mà tôi vô thức tập nhiễm lại là lối khác, không giống bây giờ (văn Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt Hà, Phạm Thị Hoài chẳng hạn). Thành thử tôi như kẻ xa lạ ở một thành phố thân gần đến nằm lòng, là một tên lưu đày giữa nơi thương yêu nhất đời mình. Sự lưu đày đó, bên cạnh nỗi buồn, có một niềm an ủi: tôi có được một văn phong và một chính tả tư riêng. Không “dòng sông” mà “giòng sông”, bấy nhiêu thôi cũng đủ niềm an ủi, như một cuộc đào thoát lớn của kẻ lưu đày bất đắc dĩ.

(…)