rời rạc về kim dung

Truyện chưởng Hồng Kông bắt đầu bùng nổ trên báo chí miền Nam khi xuất hiện dịch giả Tiền Phong “Sìn Phoóng” Từ Khánh Phụng, người Minh Hương, vị sứ giả đầu tiên đưa truyện Kim Dung đến Saigon qua bộ Bích Huyết Kiếm (đầu thập niên 60). Từ lúc báo Đồng Nai đăng nhiều kỳ truyện dịch của ông Phụng (bộ Cô Gái Đồ Long—một nhan đề đặt lại rất… lạc điệu và tối nghĩa), một cơn sốt kiếm hiệp đã dấy lên tại miền Nam VN.

Năm 1965, Saigon còn xuất hiện thêm một dịch giả cự phách, lấy bút danh Hàn Giang Nhạn và Thứ Lang. Ông tên thật là Bùi Xuân Trang, sinh năm 1909 tại Thái Bình, là giáo sư trung học Trần Lục, giỏi Hán văn, chuyên dịch sách cho Nha Tu thư Bộ Giáo dục. Ông mua bản quyền của tờ Minh Báo và dịch feuilleton bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ cho các nhật báo ở Saigon. Saigon lúc ấy có khoảng 40 tờ nhật báo thì 12 tờ đã mua bản dịch của Hàn Giang Nhạn.

Hàn Giang Nhạn đã dịch ít nhất 25 bộ truyện chưởng.

Một người thư ký ngày đó của Hàn Giang Nhạn, ông Nguyễn Văn Tầm, nhớ lại: Nhà của Hàn tiên sinh ngày ấy ở Bàn Cờ. Buổi sáng, tiên sinh vừa uống cà phê xong là đã có 12 anh tùy phái của các nhật báo đến chờ. Tiên sinh mở tờ Minh báo ra và cứ thế mà dịch và đọc cho ông Tầm viết bằng tay. Ông Tầm phải lấy 12 tờ pelure, lót 11 tờ giấy than, cố gắng ấn đầu bút Bic xuống thật mạnh để “lực đạo” có thể in qua 20 tờ giấy. Hễ tùy phái nào đến trước thì được bản ở trên; ai tới sau phải chịu lấy bản ở dưới. Cho nên, chữ nghĩa lộn xộn, cùng một dịch giả mà báo này in khác báo kia!

Sau năm 1975, các dịch giả Cao Tự Thanh và Nguyễn Duy Chính có những bản dịch lại tốt, văn phong và ý tứ chuẩn xác hơn xưa nhiều.

 

***

Kim Dung nói riêng, võ hiệp nói chung, chẳng của riêng ai. Cũng chẳng phải mỗi mình tôi đọc/đọc lại Kim Dung. Mỗi lần đọc lại, tôi chủ tâm đi tìm một khía cạnh khác. Như lần này ôm cả pho Thiên Long Bát Bộ để mà nghiền ngẫm một tuần lễ, là để nhìn lại các nhân vật—và cả tác giả—dưới ánh sáng phân tâm học. Vì sao nhân vật ấy lại hành xử như vậy; vì sao Kim Dung chỉnh lý bản thảo theo chiều hướng này mà không phải hướng kia; yếu tố gia đình/di truyền quyết định bao nhiêu phần tính cách/sự nghiệp một người; thiện căn/ác tâm thể hiện ra sao và đạt những kết quả nào; thành bại phụ thuộc vào ý chí hay tấm lòng, vân vân. Nghê Khuông thay Kim Dung viết mấy vạn chữ (phần kể A Tử bị Đinh Xuân Thu làm mù mắt), bút pháp và ý tưởng Nghê Khuông đã khác biệt Kim Dung ra sao, rồi Kim Dung (phải phát triển cốt truyện nối đuôi Nghê Khuông) xoay xở đoạn sau gặp khó khăn gì. Cái hùng tâm tráng khí, cái bi kịch anh hùng trong Thiên Long Bát Bộ ngùn ngụt bốc lên ở nhiều chương, ứng với nhiều nhân vật, nhưng tôi đặc biệt thích đoạn xuất hiện của hai tàng nhân Mộ Dung Bác (nhà sư áo xám) và Tiêu Viễn Sơn (nhà sư áo đen) ở phần gần cuối truyện. Đoạn ấy bi thiết mà hấp dẫn. Căng thẳng kiểu Tây, lại lẫn trầm mặc kiểu Tàu. Uy nghiêm, đúng mực và thê thiết. Và bản dịch Hàn Giang Nhạn vẫn đẹp hơn bản mới Nguyễn Duy Chính.

Báo thù, phục hận, dẫu từ tình nhà hay là nợ nước, đều nhuốm một vẻ thảm hại vô vọng. Anh hùng nào cũng buồn bã đáng thương.

Và thất chí và chết chóc. Và bị hủy hay tự hủy. Tiêu Phong, Mộ Dung Phục, Đoàn Diên Khánh, Du Thản Chi. Tan nát cả.

 

***

Thư Kiếm Ân Cừu Lục là pho truyện về sách và kiếm và ơn và oán.

Về thái độ sống của chân nhân, can đảm, nhạy cảm, tình cảm, và chính trực.

Càn Long bảo Trần Gia Lạc: “Cảm cái tình của huynh đài, sau này ta tiêu diệt Hồng Hoa Hội vẫn tha chết cho huynh đài một lần.”

Gia Lạc đáp: “Tôi cũng cảm động trước cách đối nhân của hoàng đế, nếu Hồng Hoa Hội bắt ngài thì tôi vẫn tha không giết.”

Càn Long cười ha hả: “Ngươi đúng là cương cường, đến hoàng thượng mà ngươi cũng không chịu lép vế câu nào.”

Các nhân vật chính trong truyện khu xử đúng đạo Khổng, chính danh. Vua thì có nghĩa vụ gì, dân có bổn phận gì; mỗi vai trò có tư cách riêng, được phát biểu gì và phải ngậm miệng lúc nào.

Điều đúng, đặt sai miệng, phát ngôn sai đối tượng, trở thành nhố nhăng. Có khi thành ngu xuẩn, thành điều sai bét.

Còn nếu đã chính danh, thì chả sợ ai. Cây ngay đâu sợ chết đứng. Kẻ sĩ đâu sợ gió sợ mưa.

Muốn đừng sợ gió sợ mưa, thì phải vững chãi. Đừng có nhìn nghiêng ngó xéo thầm mong trời mau tạnh mưa, mau tan bão; hãy gia cố cái nhà mình cho vững.

Đừng mong đời nương nhẹ mình, hãy tu tập để mình cứng cáp trước đòn đời.

 

***

Kiếm hiệp Kim Dung, pho mà tôi có thể đọc đi đọc lại nhiều lần nhất, với cảm xúc nguyên vẹn như lần đầu, là Ỷ Thiên Đồ Long Ký.

Không quá nặng nề bi thương như Thiên Long Bát Bộ, không nhạt và xa rời thực tại như Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên đủ vui và đủ buồn. Đủ thực và đủ ảo.

Vô Kỵ, nếu so ra với Dương Quá, Quách Tĩnh, Lệnh Hồ Xung, Tiêu Phong, xem chừng thiếu nhiều phẩm chất: không đủ đẹp trai, không đủ giỏi, không đủ tốt. Mọi thứ ở Vô Kỵ đều chỉ vừa chớm mức chuẩn. Tài vừa, đẹp vừa, tốt vừa. Chỉ có một thứ trội hẳn: si tình.

Thế mà Vô Kỵ lạ là nhân vật nam thành đạt nhất, hậu vận suôn sẻ nhất.

Vậy có nghĩa là [bài học rút ra] hãy vui vừa buồn vừa giỏi vừa tốt vừa thôi. Chỉ yêu, là phải vượt trội.

Và bí quyết chinh phục nữ nhân của Vô Kỵ nằm ở chỗ không chứng tỏ mình tài ba xuất chúng hay hào hoa phong nhã, mà là người biết chăm sóc kẻ khác.

Ai mà không cảm động trước sự ân cần.