phan đan

Lý do sáu năm qua, Phan Đan và tôi cùng ở trong một thành phố mà không gặp nhau lần nào—như hai người chưa từng quen biết—là một tình tiết đáng chán, một trích đoạn cải lương không đáng hát lại, một trò đá gà trong đó hai chú gà đều không muốn đá. Bạn có thể coi sáu năm như vài trang sách thiếu đi ở một bản in lỗi. Và dù gì đi nữa, giờ đây chúng tôi đã gặp lại, ngồi lại, để tiếp cảm hứng cho nhau, tình bạn hay tình yêu đều là những mối quan hệ cho-nhận, bình đẳng, có qua có lại, tôi đọc những lá thư Coetzee và Auster gửi cho nhau thấy đúng như vậy, có qua có lại, vậy mới vui, vậy mới bền vững. Tôi đọc lại những bài thơ dài Phan Đan làm ở quãng tuổi trẻ của anh, óc não tôi tự động được rót đầy năng lượng mới.

Nếu phải viết về Phan Đan thì tôi sẽ viết những dòng bỡ ngỡ, đầy mâu thuẫn, mờ tối và có thể là vô duyên. Từ cái buổi “sơ ngộ” qua… những trích dẫn của Phạm Thị Hoài khoảng năm 1988 (trong tập Mê Lộ, “những con chim điên, những con chim hạnh phúc”) đến bữa sơ giao tình cờ ở nhà lương y Phạm Tuấn Ngọc (1996) và đến bây giờ thì bao nhiêu năm? Hai mươi tám năm, với một liên hệ xa xôi vừa đủ thân thiết vừa đủ, nhưng đọc nhau thì không gián cách. Một thời gian làm cùng nhau ở tòa soạn Giai Điệu Xanh, đồng cam cộng khổ; một thời gian khác gặp nhau mỗi buổi chiều dù mưa gió hay nóng ngợp người đây kia 31 Đông Du hoặc Illy Cafe cạnh Caravelle; và mất tăm tích sáu năm đằng đẵng. Tình thân, tôi không rõ thế nào là đủ, còn thấu hiểu thì tôi tin ở mình. Một gần gụi tinh thần có được đó, một mối tương liên tự nhiên không cần vận đến cố gắng đó, một tình bạn vong niên (anh hơn tôi đúng hai mươi tuổi) ở cái thời đại không ai cần tới tình bạn như vậy, là điều không mong đợi nhưng phải biết giữ gìn. Trong những giờ phút bế tắc nguồn sáng tạo, người duy nhất tôi nghĩ đến là Phan Đan.

Thơ Phan Đan có cái cuồng ngạo Trần Dần, cái trí tuệ Đặng Đình Hưng, nhưng cận nhân tình, hiền từ và một chút gì, nhẫn nhịn. Bài thơ đầu tiên tôi đọc, là Những Cánh Hoa Màu Đen, cơ sở cho tôi viết tổ khúc ba chương cùng tên. Những bài khác, đăng rải rác và một số bài hiếm gặp, thì chính tác giả gửi cho tôi. Như đoạn trích sau đây, từ Tám Biến Tấu Trên Một Chủ Đề:

Em có chút gì dẫu mới tinh đã mỏi mòn ngơ ngác, 

   chuyến tàu tha hương, 

   nhân loại ăn ngủ cày bừa làm tình triết lý viết văn, 

   như kiến.

Em có chút gì không phải phấn son thuốc lá sách vở, 

   kẻ đi săn lá cây và sục sạo bóng mình, 

   trên dãy phố chuyên đề, 

   la liệt những phụ tùng tình cảm.

Em có chút gì không phải thuộc về em, 

   cái mà em đánh mất.

Như bài thơ về sự đợi chờ vô vọng:

Con đường nhựa lên cao dần phía dòng sông,

Hy vọng vu vơ trong đáy hồn anh trũng xuống,

Ánh sáng rụng ngổn ngang xung quanh cùng đá sỏi,

Lặng im tưởng như buổi chiều đã chết,

Sẽ chẳng có phép lạ nào,

Chỉ là một cây đinh vừa đóng vào khoảng trống.

Nhẫn nhịn, dẫu cho thất vọng tuyệt cùng, là Phan Đan.

Những khi gián cách—như vừa qua, sáu năm, tôi không mong chờ cuộc gặp, thay vào đó tôi đọc anh. Thơ, những cuốn sách anh dịch. Để đổ đầy năng lượng sáng tạo. Hoặc là tôi nhớ đến anh, giọng đọc tĩnh tại thâm trầm bài thơ dài Những Cánh Hoa Màu Đen, khi anh đến thăm con trai tôi mới sinh, 2001, ngồi nơi góc phòng khách nhỏ mà tường còn chưa có nổi một bức tranh treo.

Và rồi tự dưng chúng tôi có lại những cuộc gặp, dẫu không thể dày đặc như xưa. Anh đang biên tập cho nhà sách Văn Lang, tôi cũng ít thì giờ ngồi cà phê. Mỗi lần gặp vì thế cần ba bốn tiếng đồng hồ, ở một nơi gần như cố định: Jaspas. Chúng tôi trao đổi nhiều đề tài, không còn quan tâm nhiều đến văn chương (dào, cái thứ văn chương hư cấu!) mà thay vào đó là Phật học, ngôn ngữ học, hội họa, âm nhạc cổ điển.

Nếu phải viết về Phan Đan, tôi sẽ viết rất vụng về như trên.