ốc đảo của người hát

Mười hai năm trước, nhân một buổi gặp gỡ vào buổi sáng đầy nắng xanh tại quán Cây Tre, tôi đã nói với anh Ngọc Tân (cố ca sĩ Ngọc Tân), rằng Saigon là ốc đảo mà những người-hát thường xuyên—hay buộc phải—tìm về trên đường hành hương. Bấy giờ, sinh hoạt âm nhạc nội địa vừa mới khởi sắc với cơn sốt Mỹ Linh tại hai nhà hát Hòa Bình và Bến Thành; với cơn sốt radio Làn Sóng Xanh mỗi sáng chủ nhật; với những gương mặt trẻ ngời ngời hy vọng: Ngọc Lễ, Quốc Trung, Việt Anh, Nhất Sinh, Đức Trí; với bao nhiêu đơn đặt hàng thu âm và dự án dài hơi hoặc ngắn ngày; với Bảo Chấn và Dương Thụ; với các nhà báo văn nghệ tràn đầy nhiệt huyết Tuấn Khanh, Hải Ninh. Saigon mười hai năm trước là một ốc đảo tươi tốt còn thanh sạch, nơi mà ai đến muộn đến sớm đều được hưởng những ngụm nước mát như nhau; nơi mà sự cạnh tranh còn chưa diễn ra khốc liệt; nơi khởi đầu, bệ phóng của hầu hết các nghệ sĩ—nhất là nghệ sĩ hát.

Bên bức tường gạch đỏ không tô trát có những đốm lá biêng biếc tỏa xuống, nơi tôi chụp loạt ảnh chân dung đầu tiên cho Mỹ Linh, khi cô vừa nhảy vừa cười vừa hát líu lo như một chú sẻ non vi vu vi vu Trúc Lâm thiền tự thổn thức nỗi lòng ai kẻ tình si, tôi đã biết Linh, hay bất kỳ người nào khác, chỉ có thể nổi tiếng được ở Saigon.

Và thực tế đã diễn ra như vậy. Với Cẩm Vân, Ánh Tuyết, Lâm Xuân thời “hậu chiến”. Với Thanh Lam, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Thu Phương, Bằng Kiều, Tam ca 3A, TikTikTak, Con Gái thời Làn Sóng Xanh. Với Mỹ Tâm, Quang Dũng sau đó. Với Nguyên Thảo, Mai Khôi, Lê Hiếu, Tùng Dương, Thủy Tiên, tận sau này.

Vì sao Saigon lại thành đất linh cho những người hát, câu hỏi này có nhiều cách trả lời, cách nào cũng đúng—và chỉ đúng một phần. Dễ thuyết phục nhất là: Saigon có thị trường tốt; bạn dễ tìm thấy các tụ điểm, các phòng trà, các nhà hát, các sân khấu đủ loại đủ cỡ. Song ta hãy thử hình dung, nếu một thành phố khác—như Nha Trang, Đà Nẵng, Cần Thơ hay Hà Nội, cũng xây nhan nhản nhà hát, dựng nhan nhản tụ điểm, thì những nơi ấy có thành đất linh được như Saigon không? Tôi e rằng không.

Điểm đáng ghi nhận nhất, theo tôi, là thái độ thưởng ngoạn của người Saigon. Hay nói trệch đi, bớt “kêu” hơn, là thói quen giải trí.

Người Saigon đã quen với mô hình giải trí bằng âm nhạc từ gần năm mươi năm nay. Phong trào nhạc trẻ đã có ở Saigon sớm nhất, và có thể nói là duy nhất. Người Saigon đã quen đi phòng trà, tiệm nhảy, quen nghe radio FM, quen mua băng cassette từ những năm 60 – 70 của thế kỷ trước. Người Saigon quen với lối sống rộng rãi, cởi mở, tiêu thụ đã lâu. Người Saigon có cuộc sống thư giãn về đêm phong phú. Người Saigon thích hoạt náo, ưa sinh hoạt cộng đồng, yêu đám đông. Đó mới là cốt lõi của vấn đề dung nạp các nghệ sĩ tứ phương.

Hẳn chúng ta đều thấy, so với Saigon, các thành phố Việt khác tối hơn về đêm: ánh sáng đèn đường bao giờ cũng hào phóng hơn hẳn, ở Saigon. Đêm xuống, là lúc người Saigon ra phố. Đêm xuống, là để hẹn hò. Đêm xuống, là những vòng tay được mở ra với bè bạn, với người thân, ở nơi đông đúc. Người Saigon không ngủ sớm. Người Saigon tìm vui nơi có đèn màu lấp lóa, nơi có âm thanh rạo rực. Còn ở đâu nữa, nếu không phải phòng trà, nhà hát, tụ điểm. Và nếu đã như thế, những người hát muốn thành danh, còn đến đâu nữa nếu không phải vào Saigon, lên Saigon?

Saigon thực sự là nơi cất cánh. Saigon cũng là nơi đào thải.

Vì người ta chuộng mới, chuộng lạ, và xa cách với khái niệm chung thủy. Hơn bất kỳ nơi nào.

Thế nên, hãy đến Saigon nếu bạn muốn nổi tiếng. Và hãy rời bỏ Saigon nếu bạn không muốn mất tiếng.

(2010)