những mắt lưới hoa nghiêm

Những tháng năm tuổi nhỏ, tôi thường lấy mực tím học trò tẩm vào miếng bông gòn vẽ đầy lên bức tường đã long lở vôi nơi căn phòng nhỏ tôi sống. Cứ vài năm mẹ tôi lại quét vôi mới, nên những đường nét nguệch ngoạc xanh tím đó bị chìm đi. Chìm dưới lớp vôi xanh ve mẹ tôi quét, nhưng lại nổi lên bềnh bồng trong những cơn mơ dài vô nghĩa đầy mồ hôi khi tôi bệnh sốt. Vượt trên mọi nhìn nhận tầm thường của người lớn, “tranh trừu tượng” của tôi bốn mươi năm trước không phải là trò nghịch phá trẻ con, chắc chắn là không phải! Cái thế giới đường nét vô nghĩa đó là ảnh tượng trung thực của một thực tại khác, ở ngoài tầm ý thức, là tổng hòa những thiện nghiệp và ác nghiệp tôi đã gieo xuống trong nhiều kiếp sống trước. Đêm nọ tôi nằm mơ thấy mình vẽ bằng ngón chân trên nền đá nóng, tỉnh giấc người nhễ nhại mồ hôi và tôi nhìn lên tường, nơi đó treo bức trừu tượng khổ lớn của Trần Nhật Thăng. Có một mối giao cảm tình cờ giữa sơn dầu trừu tượng tối giản của Thăng với nghiệp duyên của tôi không? Tôi đoán là có.

Như thể Thăng đã vẽ lại thế giới trùng trùng hệ lụy mà tôi đã trải. Hay Thăng đã trải. Hay chúng ta đang trải. Thế giới đan lồng vô vàn mắt lưới Hoa Nghiêm, Thăng vẽ đường đi hỗn độn của nhân sinh trong chiếc lưới đó. Đường nào cũng là rời xa thực tại, mà đường nào cũng dẫn về thực tại trầm luân mà thôi.

Những nét đen xáo động, mê cuồng luôn được làm dịu đi bằng nhiều vệt mảnh mờ nhòe như thể ta luôn tuân theo bản năng trốn tránh bi kịch, như thể ta hà hơi lên mặt kính để kẻ lạ không thấy được nhân diện ta, lối sống của ta, niềm vui của ta, sự thống khổ tư riêng của ta. Cũng có thể, ta kiểm duyệt chính mình, bôi xóa ý thức của ta bằng nhiều—thật nhiều—nước mắt trên trang nhật ký. Bôi xóa niềm đau thương bằng nhiều, phải, thật nhiều nụ cười. Những nụ cười đẫm lệ.

Nụ cười có màu đỏ máu, màu vàng đất mẹ, màu lam rười rượi của núi, màu trắng của xương phơi. Dẫu là buồn bã, dẫu là che giấu, dẫu là lẩn trốn và tự kiểm duyệt, thì chúng vẫn là nụ cười. Trong thế giới đan cài hằng hà nỗi đau này, nụ cười máu lệ vẫn cứ là niềm an ủi. Và trừu tượng là gì nếu không phải là cố gắng tìm kiếm niềm an ủi đằng sau thực tại tang thương?

Viết cho Thăng, hay là viết cho chính tôi để hồi nhớ bao nhiêu cơn mơ tuổi nhỏ, bao nhiêu bão tố tạt vào đời, bao nhiêu lần đi quanh quẩn ngỡ rằng đào thoát được rồi lại kẹt cứng trong vùng lưới bao la tử sinh sinh tử. Viết cho Thăng, hay là viết cho sự giao cảm không thể gọi tên với đời sống tinh thần của tôi, của chúng ta. Viết cho nghệ thuật như một cứu rỗi sau cùng.

Saigon tháng Bảy 2017

 

Bản dịch của Tô Thúy Anh

In my childhood years I often soak the cotton wool with the kids’ purple ink and scrawled all over the crumling old wall in the little room where I lived. Every few years my mother would put on a new layer of limewash that would sink those dooddling strokes under. They would slumped under that layer of blue limewash only to resurface, floating aimlessly in those clammy, incomprehensible long dreams of my feverish, sickly days. Out of the percived norms of the adults, those “abstract paintings” of mine fourty years ago were not simply a kids’ thoughtless game, surely they were not. The world of those seemingly meaningless lines are the candid symbols of another reality, outside of this consciousness, they are the resonace of the good and the bad karma that I have seeded from all those lives ago. The other night I dreamt that I was drawing with my toes upon the hot stoney ground; woken up pouring with sweat my eyes fell on the large abstract painting by Tran Nhat Thang that hang upon my wall. Is there a serendipitous link between Thang’s minimalististic abstractionism and my long gathered karmas? I guess there is.

It is as if Thang has painted the world of ceaseless cycles of causes and effects that I, or Thang, or all of us, have undergone. The world consists of a never-ending Buddhvatamsaka-sutra web and Thang painted the chaotic path of humanity within that web. Every turning started a path going away from reality only to lead back to this actuality of misery and misfortunes.

The disordered, manic black lines are always soothed by the blurred wedges just as humans will always follow the instinct to escape from tragedies, just as one will cloud the glass panel with one’s own breaths to obstruct a stranger from regconising one’s self, one’s happiness or private sorrow.  It is also possible that we are censoring ourselves, erasing our consiousness with much – much – tears on the diary pages, erasing the pain with smiles, yes, countless smiles. Tear-soaked smiles.

Those smiles have the red of blood, the yellow of the homeland, the undiluted indigo of the mountain, the white of the sun-bleached bones. But smiles they still are, despite their inherent sadness, their attempt to conceal, their struggle to escape and self-censor. In this world of endless interwoven pain, even a bleeding smile will still be a source of comfort. And what is abstractionism if not an effort to find comfort behid a woeful reality?

Am I writing for Thang, or am I writing for myself to recall all those childhood dreams, all those storms that have hit my shores, all those times when I thought that I have escaped, only to find that I was still tightly bound by this infinite Buddhvatamsaka-sutra web? Am I writing for Thang, or am I writing for that fleeting, intangible communion with the spiritual life of mine, of ours? I am writing for Art as a form of Redemption. The last one.