khí hậu tâm hồn

Chụp bất kỳ thứ gì, cảnh gì, người gì, đều là chụp chính tâm hồn mình thôi. Bức ảnh không chỉ thông tin về cái-được-chụp, chẳng hạn phố Saigon, chiến tranh, phong cảnh Venice, chân dung ông A bà B, mà còn cho ta thấy rất nhiều về người-chụp—thậm chí đó mới là phần thông tin chính, có giá trị nhất. Ở xứ ta, phê bình nhiếp ảnh chỉ quanh đi quẩn lại các chi tiết kỹ thuật—máy gì, phim gì, khẩu độ bao nhiêu, bố cục, thuật in tráng—mà bỏ quên một vấn đề hết sức quan trọng là phong vị tâm hồn của tác giả ảnh. Kỹ thuật hiển nhiên đã phải đạt đến một trình độ nào đó, đâu còn là chuyện cần bàn. Như phê bình âm nhạc, người ta không cần nói nhiều (vì chỉ được giới nhạc quan tâm) về kỹ thuật giao hưởng Stravinsky, mà chủ yếu “đọc” ra cái khí hậu tinh thần của ông. Trong tập tiểu luận On Photography, Susan Sontag viết về cái khí hậu nhiếp ảnh qua nhiều tác giả ảnh đầu thế kỷ hai mươi một cách hết sức tinh tế, nhuần nhị; và đó mới là phê bình nhiếp ảnh đích thực.

Nhắc đến Henri Cartier-Bresson, mọi người cũng chỉ xoáy vào đúng một điều: khoảnh khắc quyết định. Nhưng vậy thì có phải chỉ Cartier-Bresson và chiếc máy Leica của ông mới đạt được decisive moment, hay mọi người đều làm được bằng bất kỳ chiếc máy nào? Và đó liệu có phải thứ tinh túy nhất của nhà nhiếp ảnh ấy, hay ông còn nhiều điều kỳ diệu khác ẩn sau kỹ thuật?

Tôi cho rằng chúng ta cần nhận thức lại nhiếp ảnh.

New York của Berenice Abbott biểu đạt cái nhìn thị dân lạc quan, ngăn nắp của bà. Ảnh Henri Cartier-Bresson bộc lộ quan điểm về sự bất toàn và xộc xệch của thị dân, đô thị và đời sống. Ảnh Robert Frank cô độc, vắng thiếu dưỡng khí. Ảnh André Kertész tối giản, tượng trưng, giấu ẩn ức Đông Âu trong những đường nét mạnh cứng. Ảnh Nobuyoshi Araki nói về tình dục và sự chết trong mối tương quan mật thiết. Khí hậu tâm hồn tác giả toát ra từ ảnh mới là yếu tố gây được hiệu ứng thu hút lâu bền.

Trong một đời sống dư thông tin như hiện nay, đến với nhiếp ảnh là đến với cái nằm ngoài thông tin.