hai năm trước

Những ngày Saigon nóng như rang, cũng như hôm nay, của hai năm về trước, tôi thường ngồi những buổi chiều ở quán Fix nghe nhạc smooth jazz, uống trà trong cái bình to mà tôi gọi là bể cá, hút Camel khét mù và chuẩn bị ra mắt cuốn sách Cuốn Sổ Trắng. Đó là những ngày—bằng linh cảm thuần túy—báo hiệu một năm khó nhọc và dù tôi chưa gặp phải hoạn nạn nào khi ngồi ở Fix, bóng mây chứa những điềm xấu vẫn cứ lảng vảng. Năm đó tôi hạn Thái Tuế. Tôi viết bản thảo Họ Hiện Diện gần xong rồi bỏ, hủy bản thảo. Tôi viết nhạc kịch Chử Đồng Tử tắc tị vào khoảng tháng Tư, tháng Năm. Tôi sang quán Sen Đông Dương ngồi cũng chẳng được lâu. Tôi để dành sức để đón hoạn nạn nên gần như trong tình trạng ngủ đông—ngủ hè mới đúng—chỉ hé mắt nhìn đời, chẳng buồn động cựa. Lâu lâu tôi nói chuyện offline về bút mực, sổ sách, học tiếng Phạn, dạy viết calligraphy, và đọc thật nhiều. Chưa có năm nào tôi đọc được nhiều thế. Hết sách Tây, tôi đọc lại văn chương Saigon cũ, chìm trong mộng tưởng hão huyền và hãi hùng của một thời quá vãng. Thời niên thiếu đầy bão tố. Thời khởi nghiệp chưa kịp mừng vui đã bị dập tơi tả. Mỗi lần anh Mai Xuân Vỹ nói chuyện với tôi về người Saigon cũ, anh đều nhắc đến Hoàng Hải Thủy, mà tôi thì rất ít đọc ông, trừ những cuốn phóng tác tận ngày xưa như Kiều Giang. Sở dĩ tôi “sợ” đọc ông là vì lướt lướt các trang mạng, thấy ông sắc sảo quá, chua cay quá, mà như tôi nói với anh Phan Đan, tôi không thích đọc bút chiến cãi cọ, chóng mặt lắm. Nhưng năm 2015 tôi đã đọc Hoàng Hải Thủy, lần theo những liên kết trên trang mạng của ông, để ý kỹ cách lập luận, lối kể chuyện, cái sự sâu cay độc địa của ông, thử xem thế nào. Rồi tôi mới thấy ông… hiền quá, vẫn còn hiền lắm, quân tử Tàu lắm, vẫn còn cảnh vẻ sang cả lắm, chẳng đọ được kiểu ăn nói xôi thịt thời nay đâu. Công Tử Hà Đông thì vẫn công tử thôi, ông mà phải rơi vào chiến trường đấu đá vùi dập thời bây giờ, như tôi và anh em nhạc sĩ đã chịu năm 2004, ông cũng sẽ chạy làng. Là cái chắc. Tôi đọc ông chỉ thấy vui, không thấy “sợ”, tôi còn được dịp ôn lại cách dùng từ của lớp thị dân cũ. Như đọc Duyên Anh vậy. Những phương ngữ ngồ ngộ “OK Salem”, “tí ti ông cụ”, “mí lị” (với lại), “lương” (ăn cắp), những sinh hoạt trưởng giả xa-lông Saigon, những chốn ăn uống những nơi bát phố, cách làm báo viết báo trước năm 1975, phải đọc Hoàng Hải Thủy và Duyên Anh mới tỏ tường. Thành thử mùa hè 2015 tôi đã đọc lại hết hai tác giả ấy.

Dù sao thì Cuốn Sổ Trắng đã ra được tròn hai năm. Dù sao thì tôi lại sắp có sách mới. Sông có khúc người có lúc, cứ ung dung mà sống. Mạng mình chưa tận thì chẳng ai giết được.