bút hiệu

Những bài thơ đầu tiên đăng trên Văn Nghệ Thành Phố, những bài báo đầu đời đăng Văn Hóa Nguyệt San, tôi đều ký tên thật. Kể ra đi đâu cũng chình ình cái tên Quốc Bảo thì cũng chướng, chỉ khiến chúng ghét, nhưng tôi không nghĩ được bút hiệu nào hết. Nghèo tưởng tượng. Lúc làm báo Vũng Tàu với anh Lâm Quốc Trung, vì viết quá nhiều bài trong một số báo, tôi đành phải ký những tên khác. Ký vớ vẩn gì đó, tôi chẳng nhớ, chỉ có một bút hiệu tôi dùng lại sau này khi đã viết báo chuyên nghiệp, là Nhã Đăng. Một buổi sáng ghé quán sách cầu Thị Nghè (chỗ mũi tàu Xô Viết Nghệ Tĩnh, đi quá chút là đến ngã tư Hàng Xanh) thăm anh Nguyễn Đình Toàn, anh hỏi cậu ký bút hiệu gì, tôi đáp Nhã Đăng nhưng chỉ để viết báo, còn nhạc em vẫn để tên thật. Lúc ấy tôi có quãng non hai trăm ca khúc nằm yên trong ngăn kéo, cũng đóng tập đàng hoàng nhưng chẳng cho ai nghe (ai thèm nghe), riêng có một lần họp mặt ở nhà Phạm Thị Ngọc Liên khu Hòa Hưng, có Trần Quang Lộc, Nguyễn Đình Toàn, Ý Nhi, tôi mới đệm cho Loan hát đôi bài, nhớ mang máng “Em Về Tinh Khôi” với “Tàn Phai” thì phải. Nhưng anh Toàn nhớ kỹ, anh nhận xét, cậu có cái rythme (tiết tấu) lạ, nhạc Việt xưa nay chưa ai viết thế, Nhã Đăng nghĩa là gì. Tôi ngẫm nghĩ giây lâu rồi đáp, là ngọn đèn thắp để đọc kinh Bát Nhã. Đó là nói bừa cho qua chuyện, chứ lúc đặt bút ký Nhã Đăng tôi vô thức mà làm, chẳng nghĩ ngợi xem nó nghĩa lý gì, vả lại hồi ấy tôi có thắp đèn đọc kinh Phật đâu. Kể từ đó tôi để ý hơn về chuyện bút hiệu và tên thật, mối liên hệ giữa chúng (thật ra làm gì có liên hệ nào, chỉ là bịa ra một cái tên thôi) và bút hiệu có nói trước chút gì về tác phẩm của người đó không (hẳn là có, chút ít). Có những bút hiệu sau hóa tên thật, người ta quên hẳn tên thật, như ông Mai Thảo (Nguyễn Đăng Quý), gọi anh Thảo chứ ai gọi anh Quý, hay bà Nhã Ca (Trần Thị Thu Vân), văn giới gọi bà Nhã ông Từ (Trần Dạ Từ chồng bà, tên thật Lê Hạ Vĩnh). Hóa ra tôi chẳng có bút hiệu nào chính thức, Nhã Đăng cũng chỉ là chữa cháy cho một giai đoạn viết báo kiếm sống mà thôi.