buông bỏ, và tình yêu

Buồn vui kia là một

Như quên trong nỗi nhớ

(Trịnh Công Sơn, “Nguyệt Ca”)

 

Tôi chưa nghiệm được cơ chế tác động của việc trì giới (ngũ giới cư sĩ) đến việc thực hành hạnh buông xả. Nhưng giữ giới đã giúp tôi—một cách mãnh liệt không ngờ—đến sự buông bỏ mà mỗi thiền sinh đều phải tu tập—là điều trông thấy rõ ràng. Trước khi phát nguyện giữ giới, tôi không sao thoát được những cơn buồn, những lúc cảm thấy cay đắng, những cơn vui thái quá rồi chán chường tiếp sau. Từ lúc trì giới trở đi, sự cân bằng hầu như thường trực và nếu có hụt chân một chút, cũng lấy lại an tĩnh nhanh chóng.

Ta nói về chuyện buông bỏ, bạn nhé. Có lẽ không ít người quan tâm đến Phật giáo hiểu nhầm từ “buông bỏ”. Quả thật từ này gợn lên ngay bề mặt ý tiêu cực, bất cần, lạnh nhạt. Thử nghĩ xem, tôi yêu cô ấy trên tinh thần buông bỏ, cô nào thích! Có mất cũng không tiếc à, sao tàn nhẫn vậy, động vật máu lạnh à? Thực ra là đã hiểu sai.

Buông bỏ không phải là từ bỏ, vứt đi, cắt lìa, không quan tâm. Buông bỏ theo nghĩa Phật giáo là không dính chấp vào các Pháp, chỉ quán sát và ghi nhận mọi sự như chúng diễn ra, từ khi nó sinh thành đến khi (nếu có thể) nó hoại diệt mà không phán xét xấu tốt chủ quan. Buông bỏ hàm nghĩa bỏ đi cái tôi ích kỷ, vượt qua định kiến để trưởng thành. Muốn thế giới đẹp ư? Hãy dọn lòng mình đẹp trước. Hoàn toàn có thể thương yêu và tận hưởng tình yêu nhưng không tiếc khi điều gì mất đi, vì nó sinh ra thì nó phải đến lúc mất. Hiểu đúng thuật ngữ quan trọng này (xả, một trong tứ vô lượng) thì mới tinh tấn trong tu tập, cũng như mới lợi lạc trong đời thế tục.

Tình yêu. Yêu một cách buông xả là thế nào? Không phải là hời hợt, qua loa, nhạt nhẽo, thiếu giữ gìn. Có giữ, mà giữ nhẹ nhàng bằng nội lực, bằng sức mạnh của tâm (tự tin, kiên nhẫn, kiềm chế) chứ không nắm chặt gồng cứng. Cứ gồng lên là khổ thân tốn sức mà nào có giữ được đâu: quốc gia còn mất huống hồ một mối tình cỏn con.

Buông bỏ, coi (tình yêu, sự chết) tựa lông hồng thực ra mới là biện pháp tối ưu để bồi thiện tình thương yêu: ta không còn bị những cảm xúc tiêu cực làm phiền (sợ mất mát chia lìa, sợ bị phản bội, bị bỏ rơi, ghen tuông tưởng tượng, gây hấn vì bất đồng quan điểm, tiếc nuối hận mình hận đời hận cả người yêu, giận dữ, kiêu căng). Tâm trí có sáng láng thì bản năng yêu mới hiển lộ và ta mới hạnh lạc. Có hạnh lạc tình yêu mới phát triển. Tình yêu như cái cây, đất cằn và đầy độc tố làm sao cây khỏe mạnh.

Buông bỏ còn là biết chấp nhận những thay đổi tự nhiên thay vì bám cứng lấy khuôn dạng ta đặt định cho đối tượng. Buông bỏ giúp ta nhận ra và thụ hưởng màu sắc tình yêu. Sự chán nhau, cảm thấy quen quá hoá nhàm hoặc sự tức tối khi thấy đối tượng không còn như trước (!) là những độc tố sinh ra từ sự bám chấp. Thay vì xét nét, đào bới (mất sức mất thì giờ và mất tiền thuốc trầm cảm), tại sao không quán sát một cách trong trẻo và tận hưởng vô vàn biến thiên tế vi của người yêu, của thái độ yêu?

Buông bỏ ở ý nghĩa cao nhất, là vượt qua những cố chấp nhị nguyên cứng nhắc, những cặp đối lập chan chát yêu/ghét, buồn/vui, sướng/khổ, còn/mất, tốt/xấu. Còn tư tưởng nhị nguyên, chúng ta vẫn còn tìm mọi cách đoạt được hoặc chèo kéo giữ rịt lấy phần ưu việt hơn, và vô cùng bất hạnh khi việc níu giữ đó không thành toại (cái hay bỏ đi, cái dở nằm lại). Vượt qua đối đãi nhị nguyên chính trong tình yêu là diễn đạt lại ý câu kệ bát nhã Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha. Qua bờ bên kia của những phân biệt mệt mỏi, rối bời, tăm tối, tự giải phóng mình để thỏa sức mà yêu.